Truyền thuyết li kì về nhân sâm Hàn Quốc? Nhân sâm còn giúp kích thích sản sinh tinh trùng cho đàn ông

Nhân sâm là thuốc cường tinh gián tiếp, nhưng nó đồng thời có tác dụng cường tinh trực tiếp. Tác dụng cường tinh trực tiếp của nhân sâm có liên quan đến việc bài tiết hormon sinh dục. Đối với hormon sinh dục thì gồm hormon sinh dục nam và hormon sinh dục nữ.

Truyền thuyết li kì về nhân sâm Hàn Quốc

Tổng quan về sâm hàn quốc

Là một loại củ, có vị hơi ngọt, mùi hăng hăng, một vị thuốc mà công năng của nó còn rất nhiều quan điểm trái ngược, mâu thuẫn nhau. Ở Á châu, sâm được coi là dược thảo đứng đầu trong các vị thuốc bổ (sâm nhung quế phụ). Mang một củ sâm trong túi đối với người Tàu còn có ý mang lại nhiều may mắn. Nhiều sự tích li kỳ về cây sâm được truyền tụng. Thế nhưng Tây y thì lại cho rằng chẳng qua sâm chỉ làm tăng khí lực như nhiều loại thực phẩm ta dùng hàng ngày.

Nhiều khoa học gia lại nghi ngờ coi những công năng của sâm được phóng đại, một thứ ảo giác mà thôi. Cả hai bên đều có những luận cứ xác đáng để bảo vệ quan điểm của mình, và tin hay không là tùy mỗi người. Tuy nhiên, hàng ngày vẫn có hàng triệu người dùng và kỹ nghệ trồng sâm, biến chế sâm, mậu dịch liên quan đến sâm hàng năm lên hàng tỉ bạc. Do đó, dưới khía cạnh y tế hay kinh tế, sâm vẫn có một chỗ đứng quan trọng.

Lịch sử của nhân sâm

Cây nhân sâm mà người Trung Hoa sử dụng mang đầy tính chất huyền thoại bắt nguồn từ những vùng rừng núi Mãn Châu (Manchuria). Nhân sâm được tìm thấy và dùng như một loại dược vật là từ dãy núi Trường Bạch, tỉnh Cát Lâm. Ba tỉnh Cát Lâm, Liêu Ninh, Hắc Long Giang có những rừng tùng (cedar), là khu vực thích hợp cho những cây sâm mọc hoang. Thành thử, người ta vẫn gọi nơi đây là Vành Đai Sâm của nước Tàu. Vùng này có những dãy núi cao bao quanh nên hàng ngàn năm không bị ảnh hưởng bởi dòng văn minh và sinh hoạt chính trị của trung nguyên. Chính nhờ thế mà từ ngàn xưa tới khi họ chinh phục được Trung Hoa lập ra nhà Thanh, Mãn Châu vẫn là những bộ lạc và tiểu quốc độc lập, chủng tộc riêng, văn hóa riêng. Những truyện thần kỳ về cây sâm được truyền vào nước Tàu đều có tính huyền bí, là những linh dược trên núi cao, cũng như linh chi (một loại nấm) chỉ mọc đâu đó trên núi Thái Hàng.

Khi củ sâm được mang vào bán tại trung thổ, nó là một loại dược vật được coi là hết sức kỳ diệu. Người ta đặt ra những huyền thoại, khi thì cho sâm là linh khí của thổ thần, khi thì cho là kết tụ tinh hoa của trời đất. Chính vì linh thiêng như thế, và nhất là nhiều củ sâm già có hình dáng, tay chân như một con người nên được gọi là nhân sâm. Những người đi hái sâm ở bên Tàu coi công việc của mình như một thứ nghi thức tôn giáo. Họ cho rằng cây sâm có thể biến đi nếu không gặp đúng người đúng lúc, và người hái sâm phải giữ mình cho trong sạch, coi công việc mình làm như một hành vi cứu nhân độ thế. Việc hái sâm cũng mang nhiều tính chất kỳ bí chẳng khác gì việc ngậm ngải tìm trầm ở miền Trung nước ta.

Thần thoại Trung Hoa kể rằng thần núi có thể mở một khai lộ dưới lòng đất cho cây sâm chạy trốn, hoặc biến thành vô tung, vô ảnh để kẻ tham lam không thấy được. Thần sâm cũng có thể biến thành mãnh hổ nhảy ra vồ những kẻ dung phu, chỉ biết cầu lợi. Vào thế kỷ thứ 13, 14 người ta đi tìm sâm vào lúc trời nhá nhem tối vì tin rằng cây sâm tỏa ra một vùng hào quang. Thế nhưng người tìm sâm phải hết sức yên lặng vì chỉ một tiếng động nhỏ, cây sâm cũng khép lá và ánh sáng tắt đi. Cho nên người ta thường bắn tên vào những nơi phát quang để làm dấu và sáng hôm sau quay lại tìm sâm. Đến thời nhà Thanh, triều đình ra lệnh cấm không cho tự do đi tìm sâm mà phải tập họp thành từng đội, có quan quân canh gác, có đạo sĩ làm lễ tế cáo trước khi tiến vào rừng. Những người thợ chuyên môn đó được gọi là chim trĩ xanh vì họ mặc áo ngắn màu lam, chân bó xà cạp.

Vào mùa xuân, khi một đội viên tìm ra một cây sâm, y phải lấy gậy đập mạnh xuống đất, đứng yên nhìn thẳng vào cây sâm rồi kêu lên cho đồng bọn chung quanh chạy tới. Khi nghe tiếng kêu, mọi người phải ngưng việc tìm sâm mà tập hợp lại để cùng nhau cầu khấn trời đất và sơn thần. Khi lễ chấm dứt, họ buộc một giải đỏ vào nơi cây sâm để mùa thu sẽ quay lại đào. Mùa thu đi đào sâm lúc nào phải do các đạo sĩ xem ngày giờ tốt. Lễ vật được bày ra, hương đốt lên và quây vùng bằng những mảnh vải đỏ buộc vào thân cây chung quanh. Đào sâm phải dùng xẻng làm bằng sừng hươu vì kim loại sẽ làm tiêu hao khí lực của dược vật. Những sợi rễ nhỏ cũng không được làm đứt.

Thành thử người thợ phải bới đất chung quanh, đổ nước vào cho đất thật mềm, rửa từ từ cho bao giờ trơ củ ra. Khi đào xong lại tế lễ, rửa thật sạch, gói lại kèm theo tên người tìm thấy rồi chuyển giao cho quan quân canh giữ. Những củ sâm già, quí được cho ngay lên xe có binh sĩ áp tống đem về cung giao cho Ngự Y Viện bào chế. Trước kia củ sâm là tài sản của người tìm được. Thế nhưng từ năm 1715, một đạo dụ coi sâm là tài sản quốc gia, thuộc quyền thiên tử. Tất cả phải giao lại cho quan quân chuyển về cung phân loại và định giá. Triều đình độc quyền khai thác và phân phối cho tới khi nhà Thanh bị lật đổ.

Nhân sâm dưới góc nhìn của Đông y

Theo truyền thuyết, ba vị vua khai sáng ra nước Tàu được gọi là Tam Hoàng cai trị khoảng 2500 đến 3000 năm trước Tây Lịch. Ba vị vua này cũng là thủy tổ của văn minh Trung Hoa. Vua đầu tiên là Phục Hi được coi là người đã viết nên quyển Kinh Dịch, là cuốn kinh khởi nguyên cho mọi loại học thuật. Kế đó là vua Thần Nông, cha đẻ của nông nghiệp, chăn nuôi và dược thảo. Vua thứ ba là Hoàng Đế, tạo ra lễ nhạc và y thuật.

Vua Thần Nông viết ra cuốn Bản Thảo là một loại bách khoa từ điển về dược vật. Thế nhưng bản thảo mà chúng ta được đọc ngày nay không phải do một người viết mà được thêm thắt tích tụ nhiều đời. Nhiều học giả cho rằng công trình san định chính yếu vào khoảng đời nhà Hán (202BC đến 221AD) nhưng những tài liệu có từ thời trước nữa. Đó là một công trình tổng hợp nhưng gán cho vua Thần Nông, một nhân vật huyền thoại như bất cứ một tác phẩm cổ điển nào của Trung Hoa. Trong 252 vị thuốc của Thần Nông Bản Thảo có vị Nhân Sâm. Cuốn sách này cho đến nay các tiệm thuốc bắc vẫn còn dùng.

Trong Hoàng Đế Nội Kinh, tác phẩm nói là do Hoàng Đế trước tác phân tích và phương pháp chữa trị dùng cơ sở âm dương ngũ hành nhưng nhiều người cho rằng chỉ được trước tác khoảng thế kỷ thứ ba hay thứ tư trước Tây Lịch và có thể chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Hồi của Thiên Trúc trong đó pha trộn nhiều luận điểm tương tự như tiên đạo, du già (yoga) và đôi chỗ cả tư tưởng Phật giáo. Đào Hoằng Cảnh (452-536) khi san định lại Thần Nông Bách Thảo Kinh đã viết về nhân sâm như sau:

“Nhân sâm mọc trong khe núi, được dùng để trị ngũ thương, an thần, giảm xúc động, trị hồi hộp, làm sáng mắt, thanh thần và gia tăng trí não. Dùng lâu ngày sẽ làm tăng tuổi thọ.”
Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng căn bản thuyết âm dương, ngũ hành chưa chắc đã hoàn toàn là của Trung Hoa mà rất có thể do ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ. Trong cuốn kinh cổ của Ấn Độ, Atharva Veda viết về nhân sâm như sau:

“Nhân sâm làm nẩy mầm những hạt giống mà người đàn ông gieo vào người đàn bà. Đó chính là phương pháp để sinh được những đứa con trai có sức khỏe như bò mộng. Dược vật này đem đến cho con người đầy sinh lực nên khi bị kích thích, hơi thở nóng hổi như bốc lửa…”

Chính từ cuốn sách này mà người ta cho rằng nhân sâm là một loại linh dược, một thảo mộc có năng lực cải lão hoàn đồng và đạt tới trường sinh. Một số đạo gia dùng nhân sâm trong việc luyện đơn. Một nhân vật nổi tiếng là Cát Hồng đời Đông Tấn, người đời thường biết đến qua tác phẩm Bão Phác Tử nội ngoại thiên, một cuốn sách quan trọng cho những ai tìm hiểu về tiên thuật Trung Hoa. Bão Phác Tử viết khoảng thế kỷ thứ tư sau Công Nguyên, chép mọi phương pháp trường sinh, luyện đơn, ăn uống, và pháp thuật. Ông viết những phép luyện thủy ngân, chu sa, chì hoá vàng cùng nhiều công thức khác. Nhân sâm được liệt kê là có tác dụng kéo dài tuổi thọ và tránh bệnh tật.

Trương Trọng Cảnh, người được xem như y tổ của Trung y coi nhân sâm là vị bổ dương. Trong cuốn Thương Hàn Luận, một cuốn sách quan trọng không kém gì Hoàng Đế nội kinh nói là sâm làm xuất hãn giảm sốt và gia tăng nội lực cho bệnh nhân. Tới đời Tùy Đường, Thái Y viện được thành lập, tuyển những người đỗ đạt vào làm việc, là cơ quan nghiên cứu chính thức của triều đình chuyên về y học. Đây là một biến chuyển có thể coi như cách mạng vì nghề thuốc trước kia chỉ là một nghề phụ, thường là do các đạo sĩ tự tìm kiếm nên nhiều khi có phần hoang đường, nay được huấn luyện, nghiên cứu có hệ thống. Triều đình cho lập những vườn thuốc, trong đó có việc trồng sâm tại Mãn Châu, nhất là khu vực Cát Lâm.

Thời kỳ này việc giao thương đã phát đạt, hai nền văn minh Ấn-Hoa có dịp trao đổi, bổ túc. Văn minh trung nguyên coi như cực thịnh. Đạo giáo chủ trương thuần tịnh tự nhiên, không ép xác mà cũng không buông thả, nhưng tìm cách làm thăng hoa thân xác. Quan điểm đó không đi ngược với những xu hướng triết học, Khổng Lão Phật nên được nhiều người theo đuổi. Vào thế kỷ thứ bảy, Tôn Tư Mạc (Sun Szu-Mo 601-682) chuyên tâm nghiên cứu y thuật, trước tác nhiều sách vở giá trị. Ông cũng là người đầu tiên nghiên cứu về phụ khoa (bệnh đàn bà) viết một bộ bảy cuốn Phụ Nhân Phương. Trong đề mục viết về phòng trung thuật, ông có kê toa dùng nhân sâm cho những cô dâu bị chứng lãnh cảm hay thẹn thùng trong đêm tân hôn.

Cuối đời Đường, tuy những ngành triết học, tôn giáo có phần suy vi nhưng bù lại kỹ thuật lại tiến bộ. Những phát kiến và cải thiện trong khoa học, toán học và y học rất đáng kể. Người nổi tiếng nhất trong thời kỳ này là Thẩm Quát (Shen Kuo), một nhà bác học tuy không chuyên về y thuật nhưng lại đóng góp rất nhiều công lao. Ông đã bổ túc và hiệu đính cho bộ Thần Nông Bách Thảo Kinh trở nên hoàn hảo hơn và đưa vào nhiều vị thuốc mà ông nghiên cứu từ những quốc gia khác.
Bộ sách về thuốc bắc qui mô và vĩ đại nhất phải kể đến Bản Thảo Cương Mục của Lý Thời Trân (Li Shi Zhen 1518-1593) đời Minh.

Bộ sách chép về dược tính của hơn 2000 loại dược vật và hơn 8000 thang thuốc có phương pháp khoa học, phân loại thành động vật, thực vật, khoáng vật. Bản Thảo Cương Mục phân ra năm loại sâm, mỗi loại dùng để chữa trị một tạng trong ngũ tạng. Nhân sâm (panax ginseng) bổ tì, sa sâm (adenophora polymorpha) bổ phế, huyền sâm hay nguyên sâm (scrophularia oldhami) bổ thận, đan sâm hay xích sâm (salvia miltiorrhiza) bổ tâm, quyền sâm hay tử sâm (polygonum bistorta) bổ can.
Từ thế kỷ thứ 18 đến đầu thế kỷ thứ 20, nhà Thanh coi việc buôn bán sâm là một thứ quốc cấm. Như trên đã trình bày, triều đình giành toàn bộ việc khai thác và biến chế nên sâm bán ra ngoài rất ít.

Và đương nhiên, càng hiếm thì giá lại càng cao, càng nhiều truyện thần kỳ bao quanh cái thứ củ mà bây giờ chúng ta thấy bán nhan nhản khắp các chợ Tàu. Và cũng vì sâm Trung Hoa không có, các thương nhân mới chuyển sang buôn bán sâm Bắc Mỹ, mở ra một kỷ nguyên mới cho kỹ nghệ thu lượm, trồng trọt và biến chế dược thảo này. Ngoài Trung Hoa, nhiều quốc gia khác tại Á Châu cũng có sâm, đáng kể nhất là sâm Đại Hàn và sâm Nhật Bản. Ngay từ thời nhà Chu (1100-771BC) Triều Tiên đã phải thần phục Trung Hoa và coi như một phiên thuộc. Ảnh hưởng của Tàu đối với Triều Tiên cũng không khác gì đối với nước mình. Chính xuyên qua Triều Tiên mà văn minh Trung Hoa truyền sang Nhật Bản. Năm 755, một y sư tên là Kan Jin đi thuyền qua Nhật vào làm ngự y cho vua Shomo, mang theo nhiều sách từ lục địa.

Đến thế kỷ thứ 15, một cuốn sách thuốc quan trọng của Triều Tiên là Hyang-yak Ku-gup-bang được mang sang Nhật, trong đó dược thảo chính dùng trong các thang thuốc là nhân sâm. Nhân sâm được trồng nhiều cả miền Bắc lẫn miền Nam Hàn quốc. Vì là một nguồn lợi quan trọng, các chính phủ của hai miền đều kiểm soát chặt chẽ sản vật này. Tất cả những nông gia trồng sâm đều phải đăng ký về diện tích và số lượng cho Văn Phòng Độc Quyền Mậu Dịch để chính phủ biết rõ số lượng sản xuất hàng năm. Văn phòng này, nguyên thủy tên là Chosen, thiết lập từ thời Nhật thuộc. Bắc Hàn cũng có một văn phòng tương tự. Có nhiều hạng khác nhau cho cả Hồng Sâm lẫn Bạch Sâm từ hạng nhất (thiên), đến hạng nhì (địa), hạng ba (hảo), hạng tư (vĩ). Mỗi loại lại phân chia thành loại to, nhỏ, vụn… Sâm trắng là loại sâm để nguyên không tôi luyện, sâm đỏ (red ginseng) là sâm đã được bào chế bằng cách chưng cách thủy qua một dung dịch thuốc bắc.

Nhân sâm còn giúp kích thích sản sinh tinh trùng cho đàn ông

Nó làm cho người ta hưng phấn, tăng ham muốn vượt quá nhu cầu của người bình thường. Những thuốc này bao gồm thuốc kích thích đường tiết niệu, thuốc làm xung huyết cơ quan sinh dục, thuốc làm hưng phấn cơ năng sinh dục. Tuy vậy, đây cũng chỉ là những thuốc kích thích nhất thời không phát huy hiệu quả lâu dài. Nhân sâm được xem là thuốc cường tinh, nghĩa là làm cho hiện trạng dinh dưỡng toàn thân được đầy đủ, hoạt huyết, chức năng tinh hoàn được nâng cao có thể hồi phục khả năng thụ tinh. Do vậy, nhân sâm được xem là một loại thuốc quý.

Tuy nhiên, một số người lại kỳ vọng dùng nhân sâm sẽ có hiệu quả như là thuốc kích dục, nhưng nhân sâm lại không có tác dụng đó. Ngoài ra, khi điều tra hiệu quả cường tinh của nhân sâm, người ta khám phá hiệu quả của nó rất rộng. Về mặt tăng tinh trùng, nhân sâm có tác dụng trực tiếp, nó còn có thể điều khiển chức năng cụ thể, gián tiếp làm cho việc thụ thai có kết quả cao. Nhân sâm giải tỏa thiếu năng lượng và tăng tinh lực. Các nhà khoa học Nhật Bản nói rõ tác dụng gián tiếp cho cường tinh, đối với các chứng bệnh như thiếu máu, tiểu đường mà gây suy giảm chức năng tình dục, nhân sâm có khả năng tăng chức năng này.

Kích thích sản sinh tinh trùng

Nam giới hiếm muộn đang gia tăng! Những xét nghiệm tinh dịch cho nam giới trẻ tuổi, người ta đã phát hiện số lượng tinh trùng của họ giảm đi rõ rệt. Hơn nữa, những người có tinh trùng hoạt động yếu cũng không ngừng gia tăng. Có thể thấy, về góc độ tế bào học, nam giới bị suy nhược cơ thể là một sự thật. Hiện nay, nhiều đôi vợ chồng trẻ không sinh được con hoặc khó khăn lắm chỉ sinh được 1 – 2 con mà thôi. Đây hoàn toàn không liên quan tới vấn đề kế hoạch hóa gia đình, trong số này hơn một nửa là do nam giới không đủ tinh trùng để làm phụ nữ có thai.

Một giáo sư người Nhật Bản đã báo cáo, trong 16 năm qua, thống kê của khoa tiết niệu có 1.575 nam giới hiếm muộn thì có 1.326 người có quá trình sản xuất tinh trùng bị rối loạn. Ngoài ra, với những ca bệnh này người ta tiến hành kiểm tra các nội tiết tố để xác định sự suy giảm bài tiết hormon sinh dục nam. Trên thực tế tình trạng này tương đối hiếm. Các giáo sư đã chọn ra 29 nam thuộc nhóm có tinh trùng trong quá trình hình thành bị trở ngại để tiến hành dùng nhân sâm thì phát hiện có 24 người là do thiếu tinh trùng. Kết quả thử nghiệm cho thấy trước khi cho dùng nhân sâm thì mỗi mililít tinh dịch của họ có tinh trùng dưới 5 triệu.

Nam giới hiếm muộn ngoài việc không thể sinh con, còn suy giảm khả năng bảo tồn giống nòi. Về mặt cơ thể học, tuyệt nhiên không phải là trạng thái tốt, cho dù không mắc bệnh nhưng suy giảm thể lực cũng là một minh chứng. Các nhà khoa học Nhật Bản kiến nghị những người này nên dùng và tận dụng một loại thuốc: nhân sâm. Trong đa số các loại đông dược, nhân sâm được nhiều người biết đến. Theo các nghiên cứu dược lý học, trong nhân sâm có những thành phần không chỉ có hiệu quả cường tinh, tráng dương, mà còn có thể nâng cao khả năng tạo tinh trùng của nam giới cũng như có thể kích hoạt tinh trùng hoạt động mạnh.

Đây là kết quả thử nghiệm lâm sàng của bộ môn tiết niệu thuộc khoa dược của Trường đại học Thần Hộ Nhật Bản. Có thể xem đây là tư liệu đáng tin cậy. Các giáo sư đã nghiên cứu trong 3 năm cho những người thiếu tinh trùng sử dụng các thành phần được chiết xuất từ nhân sâm. Hiệu quả cho thấy số lượng tinh trùng tăng 70,8%, về mặt di chuyển của tinh trùng đạt 66,6%. Qua phân tích tổng hợp hiệu quả phục hồi khả năng thụ thai đạt 58,3%. Đây là một kết quả tốt.

Truyền thuyết li kì về nhân sâm Hàn Quốc? Nhân sâm còn giúp kích thích sản sinh tinh trùng cho đàn ông 1

Tác động trực tiếp đến cơ quan sinh dục nam giới

Nhân sâm là thuốc cường tinh gián tiếp, nhưng nó đồng thời có tác dụng cường tinh trực tiếp. Tác dụng cường tinh trực tiếp của nhân sâm có liên quan đến việc bài tiết hormon sinh dục. Đối với hormon sinh dục thì gồm hormon sinh dục nam và hormon sinh dục nữ. Tuy nhiên, nam giới cũng bài tiết hormon sinh dục nữ, để cho nam giới không bị nữ tính hóa, hormon sinh dục nữ được gan phân giải. Tuy nhiên, một khi xảy ra rối loạn chức năng gan việc phân giải tại gan không được tiến hành suôn sẻ, khi ấy, nam giới bị nữ tính hóa thấy rõ. Đó là đặc trưng ngực nở… Lúc bấy giờ sự ham muốn tình dục cũng sẽ giảm đi.

Người ta đã thử nghiệm cho chuột dùng nhân sâm, cột quả cân vào đuôi và tính toán, chúng có thể bơi dưới nước trong thời gian bao lâu, kết quả khám phá là thời gian bơi được kéo dài hơn. Tình trạng này cho thấy rõ, sức đề kháng sinh học chống chọi với áp lực tỷ lệ thuận với chức năng gan. Như vậy, sau khi dùng nhân sâm thì chức năng gan được cải thiện làm cho sự phân giải hormon nữ hiệu quả hơn, có nghĩa nam giới cường tinh cũng được nâng cao.

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.