Vị thuốc số một cho sức khỏe chính là nhân sâm

Trong số các bộ phận nội tạng của chúng ta, lá lách và bụng thuộc về tính Thổ, mà theo Đông y là gốc của năng lượng. Vì thế, phần dương của tính ngọt trong sâm có thể củng cố tính dương của lá lách và bụng, theo đó mang năng lượng đến khắp toàn thân.

Vị thuốc số một cho sức khỏe chính là nhân sâm

Những hiểu biết về nhân sâm

Nhân sâm là rễ của cây nhân sâm trồng hoặc mọc hoang; có tên khoa học là Panax ginseng C. A. Mey, thuộc họ nhân sâm –Araliaceae. Tên nhân sâm là do vị thuốc giống hình người. Tùy vào cách chế biến mà có nhiều loại nhân sâm khác nhau như hồng sâm, bạch sâm, đại lực sâm…
cay nhan sam

Hình dáng cây nhân sâm

Cây nhân sâm là một cây sống lâu năm, cao chừng 0,6m. Rễ mẫm thành củ to. Lá mọc vòng, có cuống dài, lá kép gồm nhiều lá chét mọc thành hình chân vịt. Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi, cây nhân sâm mới cho ra hoa, kết quả. Hoa xuất hiện vào mùa hạ. Cụm hoa hình tán mọc ở đầu cành, hoa màu xanh nhạt, 5 cánh hoa, 5 nhị, bầu hạ 2 núm. Quả mọng hơi dẹt to bằng hạt đậu xanh, khi chín có màu đỏ, trong chứa 2 hạt. Hạt cây sâm năm thứ 3 chưa tốt. Thường người ta bấm bỏ đi đợi cây được 4-5 năm mới để ra quả và lấy hạt làm giống

Cây nhân sâm mọc hoang và được trồng nhiều ở Trung Quốc, Triều Tiên, vùng Viễn Đông của Liên Xô cũ, Nhật Bản, Mỹ, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là sâm Triều Tiên và Trung Quốc. Nhân sâm là vị thuốc quý, được xếp đầu tiên trong 4 loại dược liệu quý của Đông y, đó là “sâm, nhung, quế, phụ”. Theo Đông y, nhân sâm vị ngọt, hơi đắng, không độc, tính ôn, đi vào 2 kinh Tỳ và Phế; có tác dụng đại bổ nguyên khí, ích huyết sinh tân, định thần, ích trí; chủ trị các chứng khí hư dục thoát, mạch vi dục tuyệt, tỳ khí phế khí hư nhược, tân dịch tổn thương, chứng tiêu khát, khí huyết hư suy, thần chí rối loạn, dương nuy….

Vì có hình dáng giống người nên dược liệu này được gọi là nhân sâm. Còn theo nghiên cứu của y dược học hiện đại, nhân sâm có chứa các thành phần dưỡng chất quan trọng như: Saponin sterolic, Glycoside Panaxin, tinh dầu (làm nhân sâm có mùi đặc biệt), vitamin B1, vitamin B2, acid Panmitic, acid Stearic, acid Linoleic, các acid amin và hàm lượng Germanium cao, 20 nguyên tố vi lượng gồm Fe, Mn, Co, Se, K…. Các nghiên cứu đã chứng minh nhân sâm có tác dụng làm tăng sinh lực, chống lại sự mệt mỏi, giúp hồi phục sức lực, làm tăng sự thích nghi của cơ thể trước những bất lợi của điều kiện môi trường sống; bảo vệ tế bào, tăng nội tiết tố sinh dục, kháng viêm; điều hoà hoạt động của tim, hạ cholesterol máu, chống xơ vữa động mạch; giải độc gan…

Công dụng của nhân sâm là gì?

– Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, gây hưng phấn thần kinh: Với liều điều trị từ 2 – 9g sẽ làm đỡ mệt, tăng hiệu suất công tác, có khả năng rút ngắn thời kỳ phản xạ tiềm phục của thần kinh và làm nhanh sự chuyển động của thần kinh. Với liều cao sẽ gây hiện tượng quá trấn tĩnh. Đây là lý do dùng quá nhiều sâm vào buổi chiều tối làm khó ngủ.

– Tác dụng trên huyết áp và tim: Nghiên cứu nước sắc và cồn nhân sâm trên dược lý thực nghiệm thu nhận: Nồng độ nhân sâm thấp có tác dụng co bóp tim mạch và số lần co bóp tăng. Nồng độ càng cao có tác dụng ức chế tim càng mạnh và hạ huyết áp

– Tác dụng đối với sức chống đỡ bệnh tật: Nhà nghiên cứu Daugolnilov (1950 – 1952), Brekhman và Phrumentov (1956 – 1957) thuộc Liên Xô cũ cho biết nhân sâm có tác dụng tăng sức đề kháng của động vật đối với bệnh tật; kích thích hệ thống miễn dịch làm gia tăng số lượng bạch cầu, đại thực bào và Interferon giúp cơ thể chống vi trùng và siêu vi.

– Tác dụng bảo vệ cơ thể: Nhân sâm làm giảm lượng cholesterol trong máu, giảm LDL-cholesterol xấu và tăng HDL-cholesterol tốt; giãn nở các động mạch giúp cho sự tuần hoàn khỏi bị đình trệ tắc nghẽn từ đó làm giảm nguy cơ các bệnh lý tim mạch. Ngoài ra, nhân sân còn giúp gan giải các chất độc như rượu, bia; ngăn ngừa và bảo vệ tế bào tránh sự hủy hoại của các tia xạ, tia X quang; chống lão hóa cơ thể, lão hóa tế bào.

– Tác dụng đối với stress: Nhân sâm có tác dụng bảo vệ không làm thay đổi trọng lượng tuyến thượng thận, lách và tuyến giáp của chuột trong quá trình chịu đựng stress thực nghiệm. Nhân sâm có tác dụng hỗ trợ cho sự tổng hợp các Glucocorticoides và Mineralocorticoides trong tuyến thượng thận. Sử dụng liều nhỏ nhân sâm kéo dài giúp cho chuột cống và chuột nhắt trắng gia tăng khả năng chịu đựng sự kích thích của sự thay đổi nhiệt độ thật nóng và thật lạnh liên tục.

– Tác dụng đối với chuyển hóa: Nhân sâm có tác dụng gia tăng sự tổng hợp protein và acid nucleic. Trong thực nghiệm nó làm gia tăng hoạt động của RNA polymerase trong nhân của tế bào gan chuột. Các tác giả Trung Quốc và Nhật Bản đều xác nhận rằng nhân sâm có tác dụng hạ đường huyết cả trên thực nghiệm và lâm sàng.

– Tăng sức lao động trí óc và chân tay, chống mỏi mệt, làm tăng hiệu suất hoạt động tư duy và thể lực, chống lão hóa, cải thiện chức năng của não ở người lớn tuổi, tăng khả năng tập trung trí tuệ, tăng trí nhớ.

– Giúp cơ thể tăng khả năng thích nghi, phòng vệ đối với những kích thích có hại, làm hồi phục huyết áp ở cơ thể choáng do mất máu, vừa có thể làm hạ huyết áp ở người huyết áp cao.

– Tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể.

– Kích thích hormone sinh dục nam cũng như nữ.

– Ngăn ngừa sự phát sinh cholesterol cao, vì vậy mà ngăn ngừa được sự hình thành xơ vữa động mạch.

Nhân sâm tốt như thế nào đối với sức khoẻ?

Theo cuốn “Thần Nông bản thảo kinh”, sâm có vị ngọt và hơi lạnh. Nó đặc biệt tốt cho các nội tạng quan trọng. Khoa học hiện đại có thể phân tích hoạt chất trong các vị thuốc trong Đông y, nhưng vẫn không đạt tới tinh túy thực sự của nó. Thực ra, đặc tính của các hoạt chất trong Đông y thì không thể nào tách ra được. Cũng có ý nói rằng tuy chỉ có 1 vị thuốc nhân sâm nhưng trong đó có thể chứa rất nhiều hoạt chất.

Đặc tính của nhân sâm trong y học cổ truyền

nghiên cứu về bản chất của âm và dương (lạnh, mát, ấm và nóng) và vị của nó (ngọt, cay, mặn, chua, và đắng). Mỗi vị có thể được chia theo bản chất và đặc tính. Ví dụ, vị ngọt có thể làm gia tăng tuần hoàn máu và tăng cường sinh lực. Đồng thời Đông y cũng phối hợp các vị thuốc với nhau trong 1 thang thuốc theo nguyên tắc “Quân – Thần – Tá – Sứ” để hỗ trợ và khắc phục nhược điểm của nhau.

Đặc tính mà sâm có được là nhờ vào môi trường mà nó mọc, vậy nên sâm ở các khu vực khác nhau cũng lại có tác dụng khác nhau. Sâm hoang dã thường mọc ở sườn núi với độ cao từ 500 đến 1.100m. Vì mang sinh khí của núi trời nên có thể làm cho cơ thể con người kiện tráng như núi cao vững chãi.

Chữ “sơn” tiếng Hoa đến từ quẻ “Cấn” trong Bát Quái. Quẻ này mang nhiều Âm hơn Dương và đối ứng với tính hàn lạnh của núi. Vì thế, sâm có một chút tính hàn. Nhưng sâm mọc trên sườn núi, tức là ở bên mặt Dương của núi, vì thế sâm cũng có một chút tính Dương. Thêm vào đó, quẻ “Cấn” thuộc về yếu tố “Thổ” mang tính ngọt, và vì thế sâm có phần tính Dương của ngọt.

Trong số các bộ phận nội tạng của chúng ta, lá lách và bụng thuộc về tính Thổ, mà theo Đông y là gốc của năng lượng. Vì thế, phần dương của tính ngọt trong sâm có thể củng cố tính dương của lá lách và bụng, theo đó mang năng lượng đến khắp toàn thân.

Đặc tính của nhân sâm trong y học hiện đại

nhân sâm cũng là dược liệu quý hiếm có vị đắng, không độc, có tác dụng đại bổ nguyên khí, giúp bồi bổ sức khỏe, nâng cao thể lực cho con người nhờ các thành phần hợp chất hữu cơ quan trọng như chất Germanium, Glycoside Panaxin cùng với các vitamin B1, vitamin B2, các axit béo như axit Panmitic, Streari, Linoleic và các axitamin. Đặc biệt, nhân sâm có công dụng tuyệt vời trong việc bồi bổ trí não, phát triển tư duy, trí tuệ, tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ điều trị ung thư, ngăn ngừa lão hóa.

Vị thuốc số một cho sức khỏe chính là nhân sâm 1

Ngoài ra, loại thảo dược này còn có thể được dùng để hỗ trợ điều trị trong các trường hợp bệnh nhân thiếu máu, mắc các bệnh như viêm dạ dày, hen suyễn hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính… Nhân sâm tuy là loại thuốc bổ khí đầu vị, song không phải dùng cho mọi đối tượng được. Người bụng thường xuyên bị đầy trướng, căng tức, đau bụng, sôi bụng, phân nát, lỏng hoặc tiêu chảy không được dùng. Đặc biệt, nếu bị đau bụng, tiêu chảy, dùng nhân sâm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

Người bị nôn mửa, trào ngược dạ dày – thực quản, tăng huyết áp cũng không nên dùng. Vì sâm lúc đầu có tác dụng tăng huyết áp, sau lại hạ. Do vậy nếu ở trạng thái tăng huyết áp dễ dẫn đến tai biến mạch máu não. Phụ nữ trước ngày sinh cũng không nên dùng sâm.

Người hay mất ngủ nhưng sức khỏe yếu mà muốn dùng sâm nên dùng buổi sáng với liều lượng thấp, khoảng 2-3g/ngày. Cần lưu ý không dùng lô sâm (đầu núm rễ củ sâm), vì có tác dụng gây nôn. Không dùng kèm với vị lê lô và ngũ linh chi. Trẻ em cơ thể yếu, kém ăn, chậm phát triển về thể lực và tinh thần có thể dùng nhân sâm, song không nên quá lạm dụng vì có thể làm cho trẻ bị kích dục sớm.

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.